SÁCH Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung – Bài 1

0
121
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung

Trích Sách “Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ & trợ niệm lúc lâm chung”
Tác giả: Thích Tâm Hoà – (Từ Trang Chùa Hoằng Pháp)
Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ

                        Những điều căn bản về pháp môn Tịnh Độ
I. TỊNH ĐỘ LÀ GÌ

Tịnh độ chính là cõi nước hoàn toàn thanh tịnh an vui không có phiền não khổ đau được hình thành dựa trên hạnh nguyện độ tha của chư Phật, chư Bồ-tát. Bằng bốn năng lực “Từ, Bi, Hỷ, Xả” cùng với nhân duyên thù thắng và quả vị viên mãn mà hóa hiện ra vô số cảnh giới Tịnh độ để tiếp dẫn, trợ duyên cho chúng sinh vãng sinh về nơi đó tu tập cho đến ngày thành Phật.

1. Tịnh độ là đối với uế độ mà thành lập
Do có “uế độ” nên hiện ra “tịnh độ”, cũng như “sạch” đối với “dơ”mà có, hoặc “trắng”đối với “đen” mà lập. Tất cả duy chỉ một mục đích là hiển bày rõ sự khổ ở cõi “uế độ” dơ bẩn, đen đúa và hiển bày sự an lạc trong sạch, tinh khiết ở cõi “tịnh độ” để chúng sinh khởi lên ý niệm buông bỏ tham chấp, si mê trong ngục tù của “thương giận, buồn vui, ghét muốn” hướng đến sự giải thoát nội tâm, đạt được “hoan hỷ, thương yêu, hiểu biết” chân thật.

a. Uế độ
Là cõi nước do cộng nghiệp của chúng sinh nương gá nhau mà hình thành. Chúng sinh phần nhiều phước đức ít, nghiệp chướng dày nên chiêu cảm cảnh giới tương xứng khổ nhiều vui ít.Ví dụ như cõi Ta-bà của chúng ta.

b. Tịnh độ
Là cõi nước của chư Phật, chư Bồ-tát tát hóa hiện trang nghiêm thanh tịnh, không trần cấu bẩn nhơ, được dùng làm đạo tràng để hóa độ chúng sinh.Ví dụ như cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà.

Trong mười phương thế giới có vô số cõi Tịnh độ như cõi Tịnh độ của Phật Dược Sư trong kinhDược Sư Lưu Ly Bản Nguyện Công Đức, cõi Tịnh độ Diệu Hỷ của Phật Bất Động trong kinh Đại Bửu Tích, cõi Tịnh độ Cực Lạc của Phật A-di-đà được nói trong kinh Vô Lượng Thọ, Quán Vô Lượng Thọ, Phật Thuyết A-di-đà Kinh,v.v…Ngoài ra còn vô số cảnh giới Tịnh độ khác.

Tùy theo căn cơ sai biệt của vô số chúng sinh mà chư Phật hóa hiện vô số cõi Tịnh độ khác nhau. Trong Tây Phương Hiệp Luận phân chia thành 10 cõi Tịnh độ không đồng như: Tỳ Lô Giá Na Tịnh độ, Duy Tâm Tịnh độ, Hằng Chơn Tịnh độ, Biến Hiện Tịnh độ, Ký Báo Tịnh độ, Phân Thân Tịnh độ, Y Tha Tịnh độ, Thập Phương Tịnh độ, Nhất Tâm Tịnh độ và Bất Khả Tư Nghì Tịnh độ. Nói mười cõi Tịnh độ khác nhau là đứng trên phương diện danh từ giả lập nhưng kỳ thật các cõi Tịnh độ đều chung một bản nguyện căn bản là tiếp dẫn và hóa độ chúng sinh lìa mê khai ngộ. Vì sao? Vì trong một cõi bao hàm cả bốn cõi tương ứng với từng cấp độ tu chứng: Phàm thánh đồng cư Tịnh độ, Phương tiện hữu dư Tịnh độ, Thật báo vô chướng ngại Tịnh độ và Thường tịch quang Tịnh độ. Do chúng sinh căn tánh không đều nên hóa hiện ra dùng làm phương tiện để tiếp độ.

2. Cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà
Như vô số cõi Tịnh độ khác, cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà được thiết lập dựa trên 48 lời đại nguyện thâm sâu, chứa chan lòng đại từ bi cùng với năng lực trí tuệ vi diệu, tiếp dẫn chúng sinh về Cực Lạc Tây phương tạo thắng duyên lành tu tập đến ngày viên thành Phật quả.

a. Vì sao đức Phật Thích-ca đặc biệt tán thán ccõi Tịnh độ Cực Lạc Tây Phương ?
Cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà được chính lời vàng chân xác của đức Phật Thích-ca Mâu-ni đặc biệt giới thiệu và tán thán vì:

Chúng sinh nơi cõi Ta-bà này phần lớn tạo nhiều ác nghiệp như: Bất kính Sư trưởng, bất hiếu cha mẹ, không tin Tam Bảo, giết người đoạt của, tham dục lẩy lừng, tà kiến đảo điên, khiến đọa sinh vào vô số cảnh giới khổ đau trong ba cõi: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh.

Chỉ có cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà mới đáp ứng đầy đủ nhu cầu về thân và tâm của chúng sinh. Vì ở đây tất cả đều được làm bằng bảy báu trang nghiêm: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, mã não. Lại nữa tiếng chim hót, tiếng suối reo, tiếng lá xào xạc cũng phát ra pháp âm vi diệu, thù thắng. Sống trong cảnh giới hoàn toàn vô cấu như thế nên tâm chúng sinh không còn tham lam, sân hận, si mê và thân thể không còn bị ngũ dục (tài sản, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ) chi phối

Chỉ có đức Phật A-di-đà cùng với hai vị Bồ-tát thượng thủ Quán Thế Âm và Đại Thế Chí là có nhiều nhân duyên đặc biệt với tất cả chúng sinh trong cõi Ta-bà khiến chúng sinh quy hướng, kính tin, phát nguyện cầu sinh Tịnh độ.

48 lời đại nguyện của Phật A-di-đà được lưu xuất từ lòng từ bi bao la và trí tuệ quảng đại nên có thể tiếp dẫn tất cả các hạng chúng sinh vãng sinh Tịnh độ. Ví như lời nguyện thứ 18: “Khi tôi thành Phật, chúng sinh ở mười phương chí tâm tin ưa muốn sinh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được sinh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.”

b. Chánh báo và y báo cõi Tịnh độ
Chánh báo tức là quả báo hiện nơi tự thân.Ví như thân tướng trang nghiêm thù thắng của Phật A-di-đà.

Y báo tức là quả báo hiện ngoài tự thân.Ví như hoàn cảnh, quốc độ và tất cả sự vật bao quanh nơi thế giới Cực Lạc.

Chánh báo và y báo cõi Tịnh độ được hình thành từ sự tư duy nhiếp thủ của đức Phật A-di-đà khi còn là một vị Pháp Tạng Tỳ-kheo.Vì nguyện lực muốn thiết lập cảnh giới Tịnh độ để nhiếp hóa chúng sinh mà thỉnh cầu đức Thế Tự Tại Vương Như Lai hiển bày về thắng cảnh ưu việt của 210 cõi Tịnh độ. Sau khi quán sát rõ y báo và chánh báo nơi các cõi, Ngài đã tinh cần tư duy tu tập “tạo nhân quốc độ” trải qua 5 kiếp mới hình thành cõi Cực Lạc trang nghiêm.

Do nhân và quả thù thắng như vậy, nên chúng sinh nào nhất tâm cầu nguyện vãng sinh Tây phương Tịnh độ cũng đều đạt được y báo và chánh báo trang nghiêm như Phật A-di-đà, ví như nước trong chậu hòa vào nước biển, cùng chung một hương vị không khác.

Chánh báo trang nghiêm
Trong Phật thuyết A-di-đà kinh ghi rằng: “…Xá-lợi-phất! Lại đức Phật đó có vô lượng vô biên Thanh văn đệ tử đều là bực A-la-hán, chẳng phải tính đếm mà có thể biết được, hàng Bồ-tát chúng cũng đông như thế. Xá-lợi-phất! Cõi nước của đức Phật đó thành tựu công đức trang nghiêm dường ấy. Xá-lợi-phất! Lại trong cõi Cực Lạc, những chúng sinh vãng sinh vào đó đều là bất thối chuyển. Trong đó có rất nhiều vị bực nhất sinh bổ xứ, số đó rất đông, chẳng phải tính đếm mà biết được, chỉ có thể dùng số vô lượng vô biên A-tăng-kỳ để nói thôi! Xá-lợi-phất! Chúng sinh nào nghe những điều trên đây, nên phải phát nguyện cầu sinh về nước đó.Vì sao? Vì đặng cùng với các bậc Thượng thiện nhơn như thế câu hội một chỗ…”

Trên chỉ giới thiệu một trong rất nhiều chánh báo thù thắng nơi cõi Tịnh độ, nay nói tóm lược như sau:

Thân tướng trang nghiêm: 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, sắc như vàng ròng, cùng đồng một thể không có sai khác.

Thọ mạng vô hạn lượng: Người vãng sinh về Cực Lạc sống lâu vô cùng, hoàn toàn tự chủ, tùy theo bản nguyện.

Có đủ sáu phép thần thông: Thấy suốt tất cả (thiên nhãn), nghe suốt tất cả (thiên nhĩ), biết rõ tâm niệm kẻ khác (tha tâm), biết rõ kiếp quá khứ (túc mạng), đi lại tự tại (thần túc), khi đắc quả A-la-hán dứt sạch nghiệp luân hồi (lậu tận).

Tâm trí: Luôn an trụ trong chánh định.

Không còn đọa vào ác đạo: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh.

Hóa sinh: Sinh ra từ hoa sen, không do ái dục giữa nam nữ mà thành.

Thân tâm an lạc: Như các vị Tỳ-kheo đã chứng quả A-la-hán.

Không còn có tên bất thiện: Danh từ và sự bất thiện đều không.

Đạo tâm bất thoái: Tâm luôn dũng mãnh tinh tấn thẳng đến đạo Vô thượng chánh giác, không còn thoái chuyển.

Trí tuệ biện tài: Biện tài ứng đối thông suốt không chướng ngại.

Được vô sinh nhẫn: Phá trừ hết ngã chấp và pháp chấp. Lý và trí không hai.

Oai lực tự tại: Như chư Bồ-tát, Thanh văn đầy đủ năng lực, thần thông tự tại.

Thân sáng chói lọi: Hàng Thanh văn thân thì chiếu sáng được một tầm; hàng Bồ-tát thì thân chiếu sáng được từ một trăm do tuần cho đến tam thiên đại thiên thế giới.

Vô số Thanh văn: Đức Thích-ca đã bảo cho Ngài A-nan hay rằng: “Có sức thần như Mục Kiều Liên và dùng sức thần thông ấy trải qua trăm ngàn muôn ức vô số kiếp, cũng không thể biết được số lượng Thanh văn Bồ-tát chứng quả trong đại hội đầu tiên của đức A-di-đà giáo hóa; dù cho có biết được một phần nào mà nếu đem so với số chưa biết được thì cũng không khác nào một giọt nước so với biển cả.”

Vô số bổ xứ Bồ-tát: Bồ-tát sắp thành Phật không thể đếm được.
Y báo trang nghiêm
Phật thuyết A-di-đà kinh lại chép rằng: “…Xá-lợi-phất! Cõi đó vì sao tên là Cực Lạc?Vì chúng sinh trong cõi đó không có bị những sự khổ, chỉ hưởng những điều vui, nên nước đó tên là Cực Lạc. Xá-lợi-phất! Lại trong cõi Cực Lạc có bảy từng bao lơn, bảy từng mành lưới, bảy từng hàng cây, đều bằng bốn chất báu bao bọc giáp vòng, vì thế nên nước đó tên là Cực Lạc …”

Đây cũng chỉ là một phần y báo nơi cõi Cực Lạc thù thắng, nếu nói rộng ra thì đến muôn ngàn lời, nay tóm lược về phần y báo như sau:

Cõi nước bằng phẳng thanh tịnh: không có bụi dơ, sông ngòi hang hố, núi non gò đống chập chùng.

Mặt đất do bảy báu tạo thành: Dưới đáy đất có đế bằng vàng, kim cang và thất bảo chống đỡ đất lưu ly.

Khí hậu ôn hòa: Khí hậu không lạnh không nóng, mát mẻ quanh năm.

Lưới báu bủa giăng: Vô lượng lưới báu treo các linh báu giăng khắp cõi Phật. Hễ nghe tiếng linh thì tự nhiên sinh tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Sáu thời mưa hoa: Ngày đêm chia sáu thời có gió dịu phảng phất; đồng thời từ trên trời, hoa Mạn-đà-la rơi xuống cùng khắp bờ cõi thơm tho mát dịu.

Sen báu đầy dẫy: Các thứ hoa sen báu mọc lên cùng khắp cả cõi Phật. Mỗi một hoa sen báu lại có trăm ngàn ức cạnh phát ra vô lượng màu sắc.

Hóa Phật thuyết pháp: Từ mỗi hoa sen báu tuôn ra ba mươi sáu trăm ngàn ức hào quang; trong mỗi hào quang hiện ra ba mươi sáu trăm ngàn ức đức Phật, với thân vàng sáng chói, tướng tốt trang nghiêm. Mỗi một đức Phật lại phóng ra vô số hào quang chiếu sáng khắp mười phương và nói pháp nhiệm mầu cho mười phương nghe.

Cây đạo tràng của Phật: Cây đạo tràng của đức Phật A-di-đà là do các báu hợp thành. Trên cây treo các chuỗi ngọc, lưới báu bủa giăng hết thảy đều trang nghiêm và tùy ý ứng hiện.

Cây báu phát âm thanh: Vô số cây báu mọc cùng khắp cõi Tịnh độ. Khi một làn gió nhẹ thoảng qua, từ cành, từ lá, từ hoa, từ quả mỗi mỗi đều phát ra năm thứ thanh âm hòa nhã như trăm ngàn điệu nhạc hòa tấu một cách tự nhiên. Nghe tiếng nhạc ấy rồi chúng sinh liền lần lượt chứng nhập giáo pháp sâu xa, tiến lên bậc bất thoái, tiến mãi cho đến khi thành tựu quả Phật.

Muôn vật nghiêm lệ: Hết thảy muôn vật đều trang nghiêm thanh tịnh, sáng suốt xinh đẹp. Hình sắc đặc biệt và lộng lẫy một cách vi diệu, không thể tả xiết.

Không có ba đường dữ: Không có các khổ nạn của ba cảnh giới Địa ngục, Ngạ quỷ và Súc sinh

Cung điện trang nghiêm: Hết thảy nhà cửa như giảng đường tịnh xá, cung điện, lầu gác đều tự nhiên thành tựu, đều được xây và trang hoàng từ bảy thứ báu.

Quốc độ thanh tịnh: Quốc độ thanh tịnh trong suốt như một thế giới pha lê, chiếu tỏa khắp mười phương, khiến từ đó có thể trông thấy được vô lượng vô biên vô số thế giới của chư Phật bất khả tư nghì.

Hồ tắm trong thơm: Nước trong các hồ tắm yên lặng trong suốt, bản chất thanh tịnh mùi vị thơm tho như nước cam lồ và có đầy đủ tám tính chất gọi là “bát công đức thủy”. Nếu là hồ hoàng kim thì dưới đáy là cát bạch ngân; nếu là hồ bạch ngân thì dưới đáy là cát vàng; nếu là hồ thủy tinh thì dưới đáy là cát lưu ly; nếu là hồ lưu ly thì dưới đáy là cát thủy tinh; nếu là hồ san hô thì dưới đáy là cát hổ phách; nếu là hồ hổ phách thì dưới đáy là cát san hô; nếu là hồ xa cừ thì dưới đáy là cát lưu ly; nếu là hồ bạch ngọc thì dưới đáy là cát vàng tía; nếu là hồ vàng tía thì dưới đáy là cát bạch ngọc. Các nhóm báu ấy còn thay đổi tùy theo ý người muốn; hoặc do hai thứ báu, hoặc do ba, bốn cho đến bảy thứ báu mà hợp thành.

Nước hồ lên xuống tùy nguyện: Nhân dân ở quốc độ Cực Lạc, một khi bước chân xuống hồ, mực nước lên xuống cao thấp đều tùy theo ý nguyện. Cũng tùy theo ý nguyện mà nước hồ có ấm lạnh một cách tự nhiên. Tắm xong, tinh thần thấy sảng khoái và tẩy trừ hết tâm cấu nhiễm. Mỗi khi bước xuống tắm, bốn phía bờ hồ có tiếng sóng vỗ lao xao như một điệu nhạc, phát ra tiếng niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Tiếng tịch tịnh xa vắng, tiếng vô ngã, tiếng đại từ đại bi, tiếng Ba-la-mật… Những tiếng phát ra như vậy rất xứng hợp với người nghe và khiến người nghe sinh tâm hoan hỷ vô lượng.

Hương xông ngào ngạt: Từ mặt đất lên đến hư không, hết thảy cung điện, lầu gác hồ sen, cây hoa… Cho đến tất cả vạn vật đều xông ướp trong trăm ngàn thứ hương thơm, kết hợp do vô lượng tạp bảo đặc biệt. Hương ấy tỏa khắp mười phương thế giới; Bồ-tát ngửi thấy mùi hương đều dũng mãnh tu theo hạnh Phật.

Thức ăn tinh khiết: Thức ăn gồm các thứ hương hoa vô cùng tinh khiết và thù thắng hơn ở cả cảnh trời. Khi muốn ăn, chén bát thất bảo tự nhiên hiện ra với trăm thức ăn uống đầy đủ. Cách ăn không như ở cảnh giới chúng ta, mà chỉ bằng tác ý và bằng mắt thấy tai nghe, tức thời tự nhiên bảo mãn. Ăn xong, thức ăn tiêu hóa; đến giờ ăn sau, những thức ăn mới lại tự nhiên hiện ra như trước.

Y phục tùy niệm: Y phục của nhân dân tùy niệm tùy hiện, không cần may, cắt, giặt, nhuộm.

Chim biết thuyết pháp: Các thứ chim ở cõi này đều là hóa thân của đức Phật A-di-đà. Ngài biến hóa ra các thứ chim tạp sắc kỳ diệu như Bạch Hạc, Khổng Tước, Anh Võ, Xá-lợi, Ca-lăng-tần-già, Cọng Mạng, chim Phù, chim Nhạn… ngày đêm sáu thời, kêu tiếng hòa nhã. Tiếng ấy giảng giải pháp Ngũ căn, Ngũ lực, Bảy phẩm Bồ-đề, Tám pháp chánh đạo… Khiến người nghe đều phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

Lược thuật qua chánh báo và y báo thù thắng của cõi Tịnh độ để thấy được công đức tu hành và hạnh nguyện độ sinh của chư Phật thật không thể nghĩ bàn.

Cõi Tịnh độ với đầy đủ tiện nghi khiến cho chúng sinh ở cõi nước đó không còn lo nghĩ đến sự ăn uống, tài sản…Vì khắp nơi đều là bảy báu, mọi người sống chan hòa cùng chư Bồ-tát, Thanh văn. Toàn cõi đều là pháp âm vi diệu, nghe pháp này khiến chứng ngôi bất thoái vĩnh viễn không còn luân hồi. Trên đây chỉ dùng ngôn ngữ hạn cuộc thế gian để phô diễn chút nhỏ nhoi công đức bao la của cảnh Tây phương.Chúng sinh không nên dừng lại ở đây, phải nỗ lực tiến tu để chứng nhập cái vô cùng của công đức Phật, như người uống nước nóng lạnh tự biết, không cần phải khổ công tính toán so lường.

II. Phẩm vị cõi Tịnh độ của đức Phật A-di-đà

Đối với pháp môn Tịnh độ, bất cứ ai nhất tâm chuyên niệm hồng danh đức Phật A-di-đà, thiết tha cầu nguyện vãng sinh đều được như ý nguyện, không phân biệt hạng người cao thấp, sang hèn, trí thức hay ngu dốt. Bởi đây, ngoài sự nỗ lực tu hành của tự thân, người niệm Phật vẫn luôn được tha lực của chư Phật, chư Bồ-tát và Thánh chúng gia trì tiếp độ. Tha lực ấy biến khắp trong 48 lời đại nguyện cứu độ chúng sinh, trừ nguyện lực 18, 19 và 20 có sự liên đới trách nhiệm giữa tự lực của chúng sinh và tha lực của đức Phật, những lời nguyện còn lại hoàn toàn dựa vào tha lực. Như lời nguyện thứ 31: “Lúc tôi thành Phật, cõi nước tôi thanh tịnh, nơi nơi đều soi thấy tất cả vô lượng vô số bất tư nghị thế giới ở mười phương, như là thấy mặt mình trong gương sáng. Nếu chẳng được như vậy, thời tôi không ở ngôi Chánh Giác.”

Tuy tha lực của chư Phật đối với chúng sinh không có phân biệt nhưng tùy vào khả năng lãnh hội và dụng công tu hành mà có chia ra ba bậc và chín phẩm khác nhau.

1. Ba bậc và chín phẩm vãng sinh
Theo kinh Đại Bổn nói khái lược có ba, kinh Quán Vô Lượng Thọ chi tiết chia làm chín. Tuy số lượng có khác nhau nhưng ý nghĩa vẫn không khác, nay tóm tắt trình bày như sau:

a. Bậc thượng căn và ba phẩm thượng
Hạng thượng căn là những chúng sinh xuất gia ly dục thanh tịnh, nhờ đọc tụng Đại thừa, hiểu sâu chân lý tuyệt đối, rộng tu các công đức. Tùy vào khả năng tu chứng chia ra làm ba phẩm: Thượng phẩm Thượng sinh, Thượng phẩm Trung sinh và Thượng phẩm Hạ sinh.

b. Bậc trung căn và ba phẩm trung
Hạng trung căn là những chúng sinh phụng trì trai giới, hồi hướng công đức, hiếu dưỡng cha mẹ, tu các nhân lành ở đời, chuyên niệm danh hiệu Phật. Tùy vào khả năng tu chứng chia ra làm ba phẩm: Trung phẩm Thượng sinh, Trung phẩm Trung sinh và Trung phẩm Hạ sinh.

c. Bậc hạ căn và ba phẩm hạ
Hạng hạ căn là những chúng sinh biết sám hối tội lỗi sau khi đã lỡ lầm, biết tinh tấn tu theo phép thập niệm. Tùy theo khả năng tu chứng chia ra làm ba phẩm: Hạ phẩm Thượng sinh, Hạ phẩm Trung sinh và Hạ phẩm Hạ sinh.

Điểm chung của cả ba hạng cùng lấy sự phát Bồ-đề tâm làm động cơ căn bản tu hành.

2. Nhân quả tương ứng với chín phẩm vị ci Tịnh độ
Phẩm vị tu chứng cũng được thể hiện rõ ràng theo quy luật nhân quả. Nay theo kinh Quán Vô Lượng Thọ lược thuật như sau:

a. Ba phẩm bậc thượng
Thượng phẩm thượng sinh
Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Vì lòng từ không sát sinh hại vật, nghiêm trì các giới hạnh, phát Bồ-đề tâm, siêng đọc tụng kinh điển Đại thừa, tưởng niệm 6 phép tu hành (tưởng niệm Phật, tưởng niệm Pháp, tưởng niệm Tăng, tưởng niệm bố thí, tưởng niệm giới hạnh, tưởng niệm phước đức) hồi hướng công đức, phát nguyện cầu sinh Tịnh độ. Tròn đầy các công đức ấy rồi từ 1 ngày đến 7 ngày sẽ được vãng sinh.

Trạng huống lúc lâm chung: Đức Phật A-di-đà, đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế Chí cùng các đấng hóa Phật và Thánh chúng, tay nâng đài kim cương đến trước hành giả. Phật và Bồ-tát đều phóng hào quang chiếu sáng khắp thân hình hành giả, đưa tay tiếp dẫn tán thán công đức và khuyến khích tinh tấn. Hành giả hoan hỷ bước lên đài kim cương, tùy hành theo Phật và Thánh chúng. Trong khoảnh khắc, vãng sinh Cực Lạc.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Sau khi sinh về cõi Tịnh độ rồi, thấy được rừng cây ao báu, khắp nơi Phật và Bồ-tát, sắc tướng trang nghiêm hiện ra diễn thuyết pháp mầu. Nghe xong, liền ngộ vô sinh pháp nhẫn. Trong chốc lát, dạo khắp mười phương, phụng sự hằng sa chư Phật. Theo thứ lớp được thọ ký, chứng đặng vô lượng pháp môn tổng trì rồi trở về quốc độ mình tùy nguyện hóa độ chúng sinh.

Thượng phẩm trung sinh
Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Tuy chưa thọ trì đọc tụng kinh điển Đại thừa, chưa hiểu rõ thâm nghĩa, nhưng đối với chân lý tuyệt đối, lòng không kinh động. Đã thâm tín nhân quả, không hủy báng Đại thừa, đem công đức ấy hồi hướng cầu sinh Cực Lạc.

Trạng huống lúc lâm chung: Đức Phật A-di-đà và toàn thể Thánh chúng, tay nâng đài vàng đến trước hành giả, tỏ lời tán thán công đức khuyên tu học lý đệ nhất nghĩa của Đại thừa. Hành giả ngồi lên đài vàng chắp tay tán Phật, trong khoảnh khắc liền sinh Tịnh độ.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Ở trên đài vàng như hoa sen lớn một đêm hoa nở để lộ ra một thân tướng sắc vàng. Hành giả nghe các âm thanh thuần nói pháp đệ nhất nghĩa rất sâu xa. Trải qua bảy ngày, không thoái chuyển Bồ-đề tâm, liền sau đó bay đi khắp mười phương, lễ bái chư Phật, tu các pháp tam muội. Qua một kiếp, chứng được vô sinh pháp nhẫn và được thọ ký thành Phật.

Thượng phẩm hạ sinhNhân tạo tác lúc sinh tiền: Tin nhân quả, không hủy báng Đại thừa. Có phát đạo tâm vô thượng, đem công đức ấy hồi hướng cầu sinh Tịnh độ.

Trạng huống lúc lâm chung: Thấy đức Phật A-di-đà, đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế Chí cùng 500 hóa Phật đến rước, đồng thanh tán rằng: “Pháp tử! Ngươi đã phát đạo tâm vô thượng nên nay chúng ta đến rước ngươi.” Hành giả thấy mình ngồi trên đài hoa sen vàng. Ngồi xong, hoa búp lại, theo Phật và Bồ-tát vãng sinh trong ao sen thất bảo.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Ngồi trong hoa sen được một ngày một đêm thì sen nở. Sau 7 ngày mới thấy tướng tốt của Phật nhưng chưa rõ lắm. Sau 21 ngày, mắt mới thấy tỏ tường đồng thời tai cũng nghe tiếng thuyết pháp. Rồi cũng chu du khắp mười phương để nghe chư Phật nói các pháp nhiệm mầu. Trải qua 3 tiểu kiếp, chứng được bách pháp minh môn an trú ở địa vị Hoan hỷ (tức sơ địa Bồ-tát).

b. Ba phẩm bậc trung

Trung phẩm trung sinh

Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Thọ trì ngũ giới, tu bát quan trai giới, giới đức thanh tịnh, không tạo nghiệp ngũ nghịch, không phạm các lỗi lầm, đem các công đức ấy nguyện vãng sinh Cực Lạc.

Trạng huống lúc lâm chung: Khi gần lâm chung, thấy đức Phật A-di-đà cùng Thánh chúng phóng hào quang sắc vàng đến trước mặt hành giả. Tai nghe Phật thuyết bốn chân lý: Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã và tán thán hạnh xuất gia. Hành giả rất hoan hỷ, ngồi trên hoa sen chắp tay lễ Phật, trong chốc lát liền vãng sinh.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Hoa sen liền nở và liền nghe thuyết pháp tán thán 4 chân đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo. Chứng quả A-la-hán, có đủ Tam minh, Lục thông và Tám môn giải thoát đầy đủ.

Trung phẩm trung sinh

Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Hoặc đã từng tu giới bát quán trai, hoặc đã từng thọ giới Sa-di, hoặc đã từng thọ giới cụ túc, mỗi công hạnh trong một ngày một đêm với đầy đủ oai nghi. Đem công đức ấy hồi hướng, cầu nguyện vãng sinh Cực Lạc.

Trạng huống lúc lâm chung: Lúc gần lâm chung, thấy đức Phật A-di-đà phóng hào quang sắc vàng, tay nâng đài sen thất bảo, cùng với Thánh chúng đến trước mắt hành giả, tán thán rằng: “Thiện nam tử! Vì nhà ngươi tùy thuận theo lời Phật dạy nên ta đến rước ngươi.” Hành giả ngồi lên hoa sen. Hoa sen búp lại rồi sinh về Cực Lạc.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Ở trong hồ thất bảo bảy ngày, hoa sen mới nở. Mở mắt chắp tay tán thán đức Phật, nghe pháp hoan hỷ rồi chứng được quả Tu-đà-hoàn. Qua nửa kiếp liền chứng quả A-la-hán.

Trung phẩm hạ sinh

Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Hiếu dưỡng cha mẹ, làm các việc nhân từ ở đời.

Trạng huống lúc lâm chung: Khi sắp lâm chung, được gặp Thiện tri thức, được nghe các việc an vui của thế giới đức Phật A-di-đà và được nghe 48 lời đại nguyện của Ngài Pháp Tạng Tỳ-kheo. Nghe xong rồi thì mạng chung. Trong chốc lát, liền vãng sinh Cực Lạc.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Trải qua 7 ngày, gặp đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí, nghe pháp hoan hỷ, chứng quả Tu-đà-hoàn. Qua một tiểu kiếp, chứng quả A-la-hán.

c. Ba phẩm bậc hạ
Hạ phẩm thượng sinh

Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Tuy không phỉ báng kinh điển Đại thừa, nhưng gây rất nhiều tội lỗi, làm nhiều điều ác ngu si không biết tự hổ.

Trạng huống lúc lâm chung: Lúc gần lâm chung, may mắn được gặp bậc đại Thiện tri thức nói cho nghe danh tự và đề mục 12 bộ kinh Đại thừa. Nhờ nghe tên 12 bộ kinh, trừ diệt được ác nghiệp nặng nề. Theo lời chỉ bảo của vị đại Thiện tri thức, chắp tay niệm danh hiệu Phật. Nhờ sự xưng danh ấy, trừ diệt được nhiều kiếp tội lỗi trong đường sinh tử luân hồi. Bấy giờ hóa Phật, Bồ-tát Quán Thế Âm và Đại Thế Chí đến trước người gần chết, tán thán rằng: “Thiện nam tử! Nhà ngươi nhờ có xưng danh hiệu chư Phật, tội lỗi được tiêu trừ, nên ta đến rước ngươi.” Thấy nghe xong, sinh lòng hoan hỷ, tức thời mạng chung. Liền ngồi hoa sen theo Phật sinh về hồ thất bảo.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Trải qua 49 ngày, hoa sen mới nở. Trong lúc hoa đang nở, đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí phóng hào quang, đứng ở trước mặt, nói cho nghe giáo lý thậm thâm của 12 bộ kinh. Nghe rồi tín hiểu phát lòng vô thượng. Trải qua 10 tiểu kiếp, thông hiểu đầy đủ các pháp và thể chứng quả Sơ địa Bồ-tát.
Hạ phẩm trung sinh

Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Nghiệp chướng nặng nề. Hủy phạm ngũ giới, bát giới hay cụ túc giới. Ăn cắp vật dụng của thường trú, của hiện tiền Tăng. Thuyết pháp không thanh tịnh, không biết hổ với mình thẹn với người. Tạo các tội như đã kể trên, đáng lẽ phải đọa địa ngục.

Trạng huống lúc lâm chung: Lúc gần lâm chung, tướng địa ngục hiện bày trước mắt. May mắn gặp được Thiện tri thức nói cho nghe oai đức quang minh, thần lực quảng đại của đức Phật A-di-đà và tán thán công năng của Ngũ hương là: Giới hương, Định hương, Huệ hương, Giải thoát hương và Giải thoát tri kiến hương. Nghe xong liền tiêu trừ được tội nặng trong nhiều kiếp sinh tử, lửa dữ địa ngục liền chuyển hóa thành gió mát. Liền đó có mưa hoa rải rác, trên hoa có Phật và Bồ-tát hóa hiện ra để tiếp dẫn. Trong chốc lác, liền được vãng sinh vào hồ sen thất bảo.

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Trải qua sáu kiếp, sen nở, đức Quán Thế Âm, đức Đại Thế Chí dùng pháp âm an ủi và nói cho nghe nghĩa lý sâu xa của kinh điển Đại thừa, nghe xong liền phát tâm Vô thượng Bồ-đề.

Hạ phẩm hạ sinh

Nhân tạo tác lúc sinh tiền: Làm các nghiệp bất thiện, gây đủ mọi tội lỗi như phạm tội ngũ nghịch, thập ác. Đã gây các nghiệp ác ấy là phải đọa địa ngục trải qua nhiều kiếp để chịu mọi khổ não.

Trạng huống lúc lâm chung: Lúc gần lâm chung, may gặp được Thiện tri thức nói cho nghe pháp mầu và bảo niệm danh hiệu Phật. Kẻ kia bị khổ não bức bách không thể niệm được. Thiện hữu thương xót khuyến khích và nhất tâm hộ niệm. Tiếng niệm Phật liên tục bất tuyệt, khiến kẻ kia có thể họa theo. Nếu họa niệm theo đủ 10 lần “Nam mô A-di-đà Phật” tức thời nhờ niệm lực ấy mà tội lỗi trong nhiều kiếp được tiêu tan. Lúc mạng chung liền thấy hoa sen vàng như vầng mặt trời hiện ra trước mắt. Trong khoảnh khắc liền vãng sinh thế giới Cực Lạc

Quả chứng đắc khi vãng sinh: Nằm trong hoa sen đủ 12 đại kiếp, sen mới nở đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí nói cho nghe thật tướng của các pháp và dạy cho phép diệt trừ tội chướng. Nghe xong, sinh tâm hoan hỷ, phát tâm vô thượng Bồ-đề.

Ba bậc và chín phẩm tu chứng ở cõi Tịnh độ có khác nhau là do công phu tu tập sâu cạn không đồng. Tuy nhiên, một khi đã vãng sinh về ao thất bảo, hóa sinh trong hoa sen hành giả sẽ không còn sa vào ác đạo, dự ngôi bất thoái, an vui vĩnh viễn cho đến ngày viên thành Phật quả. Nói rõ phẩm vị tu hành để chúng sinh từ nơi đây nhận biết nhân tạo tác hiện thời và quả vị chứng đắc trong tương lai. Người niệm Phật rất nên lưu tâm!

III. Phương pháp tu tập để vãng sinh cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ, đức Thế Tôn dạy cho thái hậu Vi Đề Hy rằng: “Này Vi Đề Hy! Người muốn sang nước Cực Lạc ấy nên tu ba phước. Một là hiếu nuôi cha mẹ, kính thờ bực Sư trưởng, có tâm nhân từ chẳng giết hại và tu tập mười nghiệp lành.Hai là thọ trì Tam quy, đầy đủ các cấm giới và chẳng phạm oai nghi. Ba là phát tâm Bồ-đề, sâu tin nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa và khuyên dạy sách tấn người tu hành. Ba sự như vậy gọi là tịnh nghiệp. Này ViĐề Hy! Nay bà có biết chăng?Ba tịnh nghiệp ấy là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại.”

Lời đức Thế Tôn đã xác quyết, chánh nhân vãng sinh Tịnh độ chính là đây.Mười phương ba đời chư Phật cũng từ chánh nhân này thành tựu đạo quả, vậy phàm phu như chúng ta không thể không y giáo phụng hành.Chánh nhân ấy nói rộng là như vậy, nhưng tóm gọn lại chỉ gồm ba điều “Tín, Nguyện và Hạnh”.

1. Niềm tin chân chính (Tín tư lương)
Tín chính là cửa ngõ để vào đạo giải thoát.Không có niềm tin chắc chắn không thành tựu được việc gì. Người thế gian kinh doanh buôn bán quan trọng vẫn là tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau. Sự ngờ vực sẽ dẫn đến chia rẽ, khoảng cách, bất hòa, nghi kỵ, là nguyên nhân gia đình đổ vỡ, xã hội bất an, thế giới chiến tranh loạn lạc.

Trong giáo lý nhà Phật, hầu hết các pháp môn tu đều lấy “Tín” làm nền tảng như: “Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ”. Riêng với người thực hành pháp môn Tịnh độ, “Tín” lại được xem như căn bản của con đường tu tập.

Trong kinh A-di-đà, đức Thế Tôn đã cho rằng pháp môn Tịnh độ là “nan tín chi pháp”tức là pháp môn rất khó tin. Vì sao? Vì dễ tu chứng! Vì sao dễ tu chứng?Vì ngoài tự lực của mỗi chúng sinh còn có tha lực của chư Phật gia trì.Tự lực của chúng sinh có hữu hạn nhưng đối với tha lực của chư Phật vô hạn vô cùng không thể dùng trí phàm phu đo lường được. Thế nên người không tin pháp môn này tức không tin vào năng lực vô biên của chư Phật, cũng chính là không tin vào lời chắc thật của Phật Thích-ca Mâu-ni và hạnh nguyện của Phật A-di-đà.

Vậy muốn vãng sinh Tịnh độ cần phá bỏ lưới nghi “nghi thời hoa không nở”, một lòng chánh tín nương theo lời Phật chỉ dạy, làm kim chỉ nam trực thẳng đến Tây phương Cực Lạc.

Tín được chia làm hai: chánh tín và mê tín. Đối với người tu Tịnh độ không tin nhân quả, không tin lời Phật dạy, không tin có cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà… đó là mê tín. Ngược lại là chánh tín.

Trong Vãng Sinh Luận, Bồ-tát Thế Thân dạy rằng: “Y theo quán sát công đức chân thật cõi Tịnh độ mà sinh lòng tin.” Vậy công đức chân thật ấy chính là:

a. Tin lời đức Phật Thích-ca không hư dối
Phật Thích-ca Mâu-ni là đức Phật của lịch sử, điều này đã được minh chứng.Lời dạy của Ngài vẫn còn vẹn nguyên giá trị và ảnh hưởng lớn trong đời sống hiện tại.Người quân tử lấy sự thật làm thước đo giá trị đạo đức ở đời, còn Thế Tôn là bậc đại Thánh trong các hàng Thánh há nào lại lừa dối chúng sinh.Thế nên lời của Thế Tôn nói hoàn toàn không có hư dối.

b. Tin cõi Tịnh độ và lời nguyện của đức Phật A-di-đà hoàn toàn chắc thật
Trong thế gian có vô số uế độ vì có vô số chúng sinh tạo nghiệp sinh tử luân hồi mà cõi Ta-bà là một trong số đó. Do đó vô số Tịnh độ xuất hiện vì hạnh nguyện chư Phật trong 10 phương 3 đời vẫn luôn bao trùm khắp không gian, thời gian mà Tịnh độ của Phật A-di-đà là một. Lời đại nguyện thâm sâu được phát ra từ lòng bi mẫn của vị Pháp Tạng Tỳ-kheo khi còn ở nhân địa tu hành Phật quả được đức Phật nói rõ trong phần 2 của kinh Vô Lượng Thọ: “Nhân duyên Ngài Tỳ-kheo Pháp Tạng phát 48 đại nguyện trước đấng Thế Tôn và nhờ công đức tu tập thù thắng, đức hạnh thâm mật, Ngài thành tựu Pháp thân hiệu A-di-đà, thể hiện cảnh giới như tâm nguyện và ngự trị cõi nước tên là Cực Lạc ở phương Tây.”

c. Tin chư Bồ-tát, chư Hiền Thánh tăng đều gia trì hộ niệm
Cõi Tịnh độ của Phật A-di-đà có vô lượng Bồ-tát, Thanh văn.Trong đó, đức Quán Thế Âm và đức Đại Thế Chí là bậc Bồ-tát thượng thủ, trợ giúp đức Phật giáo hóa chúng sinh. Tâm nguyện của các Ngài rộng lớn không gì sánh bằng, kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật Thích-ca dạy trong phần quán tưởng về đức Quán Thế Âm: “Quán Thế Âm Bồ-tát ấy chỉ nghe danh hiệu còn được phước vô lượng huống là quán kỹ.” Chúng sinh chỉ cần nghe tên Bồ-tát thôi phước đức đã không thể nghĩ bàn.Vì sao?Vì công đức của chư Bồ-tát, Thanh văn ở cõi Tịnh độ là vô lượng, công đức ấy không khác gì công đức của Phật A-di-đà.

d. Tin nhân quả
Định luật này bao trùm khắp vũ trụ vạn hữu.Người tu Tịnh độ nếu xa lìa nhân quả mười phần công đức không được một.Thế nên nhân nào quả đó, niệm Phật, quán tưởng cõi Phật là nhân, vãng sinh Tịnh độ thành Phật là quả.Nhân quả tuy muôn trùng nhưng tóm gọn trong câu“Thiện nhân thiện quả, ác nhân ác quả”.

e. Tin bản thân có thể vãng sinh, thành tựu Phật quả
Đức Thế Tôn đã dạy “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Đó là lời thọ ký, lời xác quyết đầy tuệ giác của đức Thích-ca Mâu-ni. Chúng ta thường nghe “Phật, chúng sinh tánh thường rỗng lặng”, tánh rỗng lặng chính là Phật tánh, là Chân tâm thường trú, là Diệu giác tánh, là Bản lai diện mục cũng chính là Phật A-di-đà trong mỗi chúng sinh. Phật đã thành vì Ngài nhận ra được bản tâm thanh tịnh đoạn trừ phiền não chướng, sở tri chướng, tự độ, độ tha, nên viên thành Vô thượng chánh giác.Chúng sinh vì lấy ba độc tham, sân, si làm cam lồ nên trôi lăn trong ưu bi, khổ não. Nay nương nguyện lực Phật, nương tha lực Phật, tin tự lực chính mình nỗ lực tiến tu, gieo tịnh nhân, trồng tịnh nghiệp, niệm hồng danh Phật, thiết tha cầu nguyện vãng sinh lo gì không thành Phật.

2. Chí nguyện chăn chính, thiết tha (Nguyện tư lương)
Nguyện chính là động lực thúc đẩy người niệm Phật tinh cần ngày đêm không thoái chuyển vì mục tiêu cứu cánh vãng sinh Tịnh độ, thành tựu Phật quả vì lợi lạc cho chúng hữu tình. Nếu nguyện không tha thiết, tâm Bồ-đề dễ bị lay chuyển, nhờ có nguyện mới giữ được đạo tâm, trau dồi đạo lực, viên thành đạo quả. Cũng như người cưỡi ngựa nắm vững dây cương, khéo léo điều phục làm chủ trên lưng ngựa mà không bị té ngã.

Đức Phật A-di-đà lúc còn là Pháp Tạng Tỳ-kheo cũng nhờ nơi 48 đại nguyện mà thành lập nên cõi Tịnh độ Tây phương. Đức Thích-ca Mâu-ni khi còn là vị Thái tử trải qua 6 năm khổ hạnh không có kết quả, vượt sông Ni Liên Thiền đến dưới cội Bồ-đề phát lời thệ nguyện “Nếu không thành Phật thề không đứng dậy”. Đức Quán Thế Âm vì muốn thành tựu hạnh nguyện độ tha đã phát 12 lời thệ nguyện rộng cứu chúng sinh.Từ đây cho thấy, xa rời thệ nguyện không thể nào thành tựu Phật đạo.

Chúng sinh muốn vãng sinh Tịnh độ nên ngày đêm thiết tha phát nguyện. Nguyện này phải dựa trên tâm Bồ-đề, vì giá trị của tâm Bồ-đề là vô cùng tận được Ngài Tịch Thiên dạy rõ trongNhập Bồ-tát Hạnh:

“Bồ-đề tâm cam lồ bất tử
Vô tận kho trừ khử đói nghèo
Dược phương chữa bệnh cheo leo
Bóng cây che mát nhóc nheo hữu tình.”

Lại nữa, trong kinh Quán Vô Lượng Thọ,đức Phật bảo A-nan và Vi Đề Hy: “Người sinh Cực Lạc thế giới, bậc Thượng phẩm Thượng sinh ấy, nếu có chúng sinh nguyện sinh Cực Lạc thế giới phát ba thứ tâm liền được vãng sinh. Những gì là ba tâm?Một là chí thành tâm, hai là thâm tâm và ba là hồi hướng phát nguyện tâm.Người đủ ba tâm này ắt sinh Cực Lạc thế giới.” Ba tâm ấy được gồm thâu trong hai phần:

a. Bồ-đề tâm phát nguyện
Vào buổi sáng trước khi bước xuống giường, hoặc trước thời công phu sáng, người niệm Phật nên ngồi ngay ngắn, chắp tay thành kính hướng về bàn Phật hoặc hướng tây khởi lên động lực làm sống dậy Bồ-đề tâm nguyện theo phương pháp 6 nhân 1 quả:

·   Tất cả chúng sinh trong vô lượng kiếp đến nay đều là cha mẹ, thân thuộc của con.

·   Cha mẹ đã từng cưu mang và nuôi dạy con bằng mọi hình thức tốt nhất có thể.

·   Con xin ghi nhớ ân đức mà cha mẹ đã dành cho con.

·   Con nguyện báo đáp ân đức cao đẹp của cha mẹ.

·   Hiện giờ chúng sinh đang trôi lăn trong vòng sinh tử như người mẹ thân thiết của con đang bị cuốn trôi trong dòng nước xiết, con nguyện cứu họ thoát khỏi dòng sinh tử khổ đau ấy.

·   Con nguyện đem mọi phương tiện như chư Phật đưa họ đến an vui vĩnh cửu.

·   Con xin gánh chịu mọi khổ đau của chúng sinh và nguyện đem an vui mà con có được dù chỉ là nhỏ bé dâng tặng cho họ.

Từ 6 nhân này nếu được huân tập thuần thục sẽ thành tựu quả vị Bồ-đề tâm vô thượng tức gồm đầy đủ “thành tâm và thâm tâm”. Đây chính là điểm then chốt trong các pháp tu theo Đại thừa giáo điển.

b. Hồi hướng phát nguyện tâm
Trước khi ngủ hoặc sau các thời công phu tụng kinh niệm Phật nên đọc bài kệ:
Con xin nguyện quay về nương tựa Phật
Con xin nguyện quay về nương tựa Pháp
Con xin nguyện quay về nương tựa Tăng
Con xin nguyện quay về nương tựa chư Phật, chư Thánh chúng cõi Tây phương Cực Lạc.
Từ ngày hôm nay cho đến ngày giải thoát,
Với công đức có được,
Nhờ bố thí, trì giới, tụng kinh, niệm Phật…
Và các hạnh lành khác,
Con xin nguyện hồi hướng về cõi Tây phương Cực Lạc,
Nguyện con sớm thành tựu Phật quả,
Vì lợi ích cho chúng hữu tình.

Đây là bài phát nguyện dựa theo lời chỉ dạy trong quyển Giải Thoát Trong Lòng Bàn Taycủa bậc đạo sư Pabongkha vĩ đại. Với cách thức này, chủng tử Phật sẽ luôn tăng trưởng và được duy trì qua nhiều kiếp sống về sau. Nhờ đặt hết tâm lực vào lời nguyện, từ sáng đến tối người niệm Phật sẽ luôn được chư Phật gia hộ, vượt qua chướng ngại, gặp nhiều thuận duyên trên bước đường tu tập viễn ly mọi khổ não đạt được an lạc, hạnh phúc ngay trong lúc hiện tiền, tương lai chắc chắn sẽ vãng sinh Tịnh độ.

3. Phương pháp hành trì (Hạnh tư lương)
Nếu “Tín” là sự xác quyết con đường đi hoàn toàn chân thật, “Nguyện” là động lực để tiến hành thì “Hạnh” chính là bắt đầu sự khởi hành.
Đối với người tu Tịnh độ tư lương “Hạnh” chính là sự gia công tinh tấn hành trì liên tục không gián đoạn. Phương pháp tu tập pháp môn Tịnh độ đã được đức Phật Thích-ca Mâu-ni dạy rất rõ trong bản kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh A-di-đà, kinh Vô Lượng Thọ và Vãng Sinh luận do Bồ-tát Thế Thân trước thuật. Nay chỉ khái lược qua những điểm chính yếu sau:

a. Phương pháp phổ quát
Đây là cách thức tu tập dành cho tất cả mọi căn cơ. Người hành trì những pháp này sẽ tạo nhân Tịnh độ để quyết định vãng sinh trong tương lai và dự vào phần hạ phẩm đến trung phẩm tùy theo khả năng hành trì.

Quy y Tam bảo và quy y chư Phật, Thánh chúng cõi Tịnh độ
Quay về nương tựa Phật
Quay về nương tựa Pháp
Quay về nương tựa Tăng
Quay về nương tựa Phật và Thánh chúng cõi Cực Lạc

Thọ trì năm giới tại gia
Không sát sinh
Không trộm cắp
Không tà dâm
Không nói dối
Không sử dụng ma túy và các chất gây say

Tín tâm niệm danh hiệu Phật
Dùng niềm tin chân chính thiết tha chuyên niệm hồng danh “Nam mô A-di-đà Phật.”
Ngày đêm tinh tấn không khởi tạp niệm, hành trì đến khi nhất tâm bất loạn.
Các phương pháp niệm Phật.

Trì danh niệm Phật: Nghĩa là chuyên trì tụng danh hiệu Phật. Phương pháp này được chia ra nhiều cách niệm tương ứng với từng người trong từng hoàn cảnh cụ thể như: niệm Phật cao tiếng, niệm Phật kim cương, niệm Phật bằng tràng hạt, niệm Phật theo số lượng, mặc niệm niệm Phật… đây được xem như là những cách niệm Phật phổ thông nhất.

Thật tướng niệm Phật: Nghĩa là quán tưởng thật tướng của Phật. Kết quả của phương pháp này là Chân như Tam muội, cũng gọi là Nhất hạnh Tam muội nghĩa là chánh định, chỉ cho cảnh giới đạt được trong định khi sự tu tập đã thành tựu. Phương pháp này chỉ thích hợp với hạng thượng căn, hạng trung, hạ căn không tương thích được.

Quán tưởng niệm Phật: Nghĩa là quán tưởng cảnh giới Cực Lạc của đức Phật A-di-đà. Phương pháp này y cứ vào kinh Quán Vô Lượng Thọ mà lập.

Phương pháp niệm Phật thích hợp mọi căn cơ

o   Ý nghĩa
Trong ba cách niệm Phật trên, phương pháp “Trì danh niệm Phật” phù hợp mọi căn cơ.Từ hàng thượng căn thông minh uyên bác cho đến kẻ hạ căn một chữ không thông. Từ người giàu sang đến kẻ khốn cùng, từ người trẻ tuổi đến cụ già tóc bạc… Vì sao?Vì phương pháp này lấy danh hiệu “Nam mô A-di-đà Phật” làm đề mục.Dùng câu Phật hiệu buộc nơi chánh niệm, nhớ nghĩ rõ ràng làm chủ tâm ý không để tạp niệm có cơ hội xen vào.

Với câu Phật hiệu bất kỳ ở nơi nào cũng có thể niệm được, nhưng “niệm” là phải từ tâm lưu xuất, không lơ là, tạp loạn.Hành giả luôn đặt ba nghiệp của mình vào hồng danh Phật. Miệng niệm “Nam mô A-di-đà Phật” một cách khoan thai, không nhanh không chậm, không quá to không quá nhỏ, tai lắng nghe tiếng niệm rõ ràng từng chữ không nhầm lẫn, ý trụ vào câu Phật hiệu không sinh tâm dao động, lăng xăng, ví như người bưng bát, chú tâm hứng từng giọt cam lồ không để rơi mất. Theo cách này hành trì miên mật, người niệm Phật đến khi thuần thục, ba nghiệp thân, miệng, ý đêm ngày không xa lìa câu Phật hiệu, đạt đến sự thanh tịnh hoàn toàn, nhờ đó mà hiện tiền được an lạc, tương lai quyết định vãng sinh Tịnh độ.

o   Phương pháp hành trì
Dưới đây là một số phương pháp hành trì thông dụng thích hợp với tất cả căn cơ trình độ.Thực hành miên mật sẽ đem đến kết quả không thể nghĩ bàn. Nương vào công đức niệm Phật của tự thân và tha lực của chư Phật, hành giả chắc chắn được an lạc trong hiện đời, lúc lâm chung thân ngồi trên sen báu được chư Phật, Thánh chúng tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ.

§   Niệm Phật bằng tràng hạt (chuỗi hạt)
Những người tâm khó tập trung nên dùng tràng hạt để cột tâm vào câu niệm Phật.Phương pháp này thông dụng cho mọi độ tuổi, trong mọi hoàn cảnh.Có thể dùng chuỗi 18 hạt cho đến 108 hạt.Mỗi một hạt niệm một câu Phật hiệu.Người có thời gian cố định mỗi khi niệm hết một tràng rồi dùng một hạt đậu hoặc ngô (bắp) để ghi số lượng. Tay lần chuỗi, miệng niệm danh hiệu Phật rõ ràng, khoan thai, tâm nhớ nghĩ. Niệm liên tục, lâu ngày tâm sẽ được an định, tạp loạn nếu khởi lên sẽ bị câu Phật hiệu ngăn lại và tan biến.

§   Niệm Phật theo tiếng nhạc
Người tâm dễ bị buồn ngủ có thể kết hợp niệm Phật lớn tiếng theo âm điệu. Nhờ âm thanh có thể đưa câu niệm Phật dễ dàng đi vào trong tâm. Với cách này, miệng niệm lớn (như đang hát một bản nhạc theo giai điệu yêu thích) tai lắng nghe âm thanh của tiếng niệm Phật, tâm sẽ được thoải mái, phấn chấn, xoa dịu cơn buồn ngủ, thư giản tinh thần, giảm thiểu sự bực tức, chán nản do áp lực công việc, học tập đem lại. Đây cũng là cách thư giản bổ ích, không tốn kém, đồng thời gieo được chánh nhân vãng sinh cõi Tịnh độ.

§   Niệm Phật mặc niệm (niệm thầm)
Người thường làm công việc văn phòng, giao tiếp, di chuyển nhiều trên các loại phương tiện, hoặc gia đình chưa hiểu đạo, không có không gian niệm Phật riêng có thể áp dụng niệm Phật mặc niệm. Cách này miệng tuy không niệm ra tiếng, nhưng tâm lúc nào cũng rõ ràng, đi, đứng, nằm ngồi đều nhớ danh hiệu Phật. Trong các thời, dù niệm nhiều hay ít cũng đều hồi hướng cầu vãng sinh Tịnh độ.

§   Niệm Phật đại chúng
Cách này áp dụng trong trường hợp niệm Phật tập thể. Phương tiện cần có gồm: một mõ, một khánh, một người đánh khánh, một người niệm Phật có chất giọng khỏe, rõ ràng, đồng thời giữ nhịp mõ làm trường canh.
Cách niệm: hai nhịp khánh đi kèm hai chữ “Nam mô”, một nhịp mõ đi kèm một chữ “A”, cũng thế áp dụng cho chữ “Di Đà” và chữ “Phật”. Người chủ xướng niệm ba câu liên tiếp, sau khi dứt đại chúng đồng niệm tiếp ba câu giống như trên. Theo cách này, đại chúng nương theo người chủ xướng, nhịp khánh và mõ, miệng niệm to, rành rẽ, tai lắng nghe, tâm an trụ trong câu Phật hiệu.

§   Niệm Phật kinh hành
Cách này áp dụng cho người không thể ngồi lâu, nếu kết hợp với niệm Phật đại chúng sẽ tạo nên không gian niệm Phật hoàn hảo.

Cách niệm: người niệm Phật tùy theo sức khỏe có thể ngồi từ 5 phút cho đến lâu hơn. Trong khi cơ thể mệt mỏi, sắp rơi vào trạng thái ngủ gật, nên đứng dậy đi kinh hành. Miệng niệm “Nam mô” chân trái đồng thời bước theo và niệm chữ “A” chân phải cùng lúc bước theo. Cứ như vậy áp dụng cho chữ “Di Đà” và chữ “Phật”.Đây được xem như bài tập thể dục cho toàn bộ cơ thể mà không mất tiền bạc lại được công đức vô lượng, làm nhân lành cho sự vãng sinh cõi Cực Lạc. Nói chung tùy theo hoàn cảnh cụ thể mà áp dụng cách niệm Phật thích hợp, nhưng chung quy phải lấy niềm tin chân chính, chí nguyện thiết tha và hành trì miên mật làm tư lương cho quá trình tu niệm.

Hiếu dưỡng cha mẹ
Sống gương mẫu, vâng lời, kính thờ, lo lắng chăm sóc sức khỏe và hướng dẫn cha mẹ quy hướng Tam bảo, niệm hồng danh Phật.
Cha mẹ qua đời siêng tu phước lành hồi hướng cho cha mẹ.

Ngăn ngừa mười điều ác và tu mười điều lành:
Kinh Thập Thiện Nghiệp Đạo, đức Phật Thích-ca đã dạy cho Long Vương rằng: “Mười thiện nghiệp này có công năng làm cho các pháp như Thập lực, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng, tất cả các pháp mà Phật đã chứng, thảy đều được viên mãn. Vì vậy nên các người cần phải tu học thập thiện. Này Long Vương! Ví như tất cả thành ấp xóm làm đều y vào đại địa mà an trú, tất cả cỏ cây rừng rú đều y vào đại địa mà sinh trưởng, thì mười điều thiện này cũng lại như vậy. Tất cả thiên nhơn đều y vào “đại địa” thập thiện mà thành lập, tất cả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và tất cả Phật pháp cũng đều y vào “đại địa” thập thiện mà thành tựu được các hạnh Bồ-đề.” Những gì là mười:
Thân có 3 việc: không sát sinh, không trộm cắp, không dâm dục (nếu tại gia thì không tà dâm).
Miệng có 4 việc: không nói dối, không nói lưỡi hai chiều, không nói lời ác độc gây chia rẽ, không nói lời thêu dệt mê hoặc lòng người.
Ý nghĩ có 3 việc: không tham dục, không sân hận, không si mê.

Hồi hướng công đức lành về cõi Tịnh độ
Tất cả những hạnh lành trên nên hồi hướng hết về Tây phương Cực Lạc nguyện được vãng sinh, thành ngôi Chánh giác.

Phương pháp chuyên sâu
Đây là cách thức tu tập dành cho các hạng có căn trí thông lợi.Thực hành nhân tịnh này trong khoảnh khắc hành giả sẽ gặp Phật, thể nhập cảnh giới Tịnh độ ngay hiện tiền và quả vị vãng sinh Tịnh độ chắc chắn ở ngôi Thượng phẩm.
Ngoài việc thực hành thuần thục phương pháp phổ quát, người niệm Phật cần nên tiến sâu vào cảnh giới Tịnh độ bằng phương pháp “Chỉ và Quán” căn cứ vào kinh Quán Vô Lượng Thọvà Vãng Sinh Tịnh độ luận giảng yếu do Bồ-tát Thế Thân trước tác, Ngài Thái Hư đại sư giảng. Phương pháp thực hiện bao gồm:

Tán thán Phật A-di-đà và chư Thánh chúng cõi Cực Lạc

Ý nghĩa
Tán thán tức là ca ngợi công đức của chư Phật.Cách đơn giản nhất là xưng tán danh hiệu Phật.Vì Phật A-di-đà bao gồm đầy đủ ánh sáng vô lượng, thọ mạng vô lượng và công đức vô lượng.Dùng lối xưng tán này để ghi nhớ y báo và chánh báo của Phật cũng chính là sự trang nghiêm nơi cõi Tịnh độ.Điều này thật sự cần thiết vì đây là nhân để sau khi sinh về Cực Lạc được vào trong Thánh chúng tham dự pháp hội.Vãng sinh Tịnh độ luận giảng yếu chép: “Có người sinh về Cực Lạc mà không được vào hội chúng là do nghi tâm niệm Phật, tuy sinh về Cực Lạc, song phải chịu 500 đại kiếp không có thể vào đại hội chúng nghe giảng Phật pháp.”

Phương pháp xưng tán
Dựa trên bài kệ sau, hành giả thân tướng trang nghiêm, chấp tay cung kính, miệng xưng tán lời này:
Sắc thân Như Lai đẹp
Thế gian không ai bằng
Chẳng sánh, chẳng nghĩ bàn
Nên nay con đảnh lễ
Tướng Phật đẹp vô cùng
Trí tuệ Phật cũng thế
Tất cả Pháp thường trụ
Vì thế con quy y
Trí lớn nguyện lực lớn
Độ khắp cả quần sinh
Khiến bỏ thân nóng khổ
Sinh kia nước mát vui
Con nay sạch ba nghiệp
Quy y và lễ tán
Nguyện con cùng chúng sinh
Đồng sinh về Tịnh Độ.
Úm phạ nhật la vật (3 lần)

Lễ bái Phật A-di-đà và chư Thánh chúng cõi Tây phương Cực Lạc

Ý nghĩa
Đem thân, miệng, ý thanh tịnh năm vóc sát đất (trán, 2 tay và 2 chân) cung kính đảnh lễ chư Phật, Bồ-tát và Thánh chúng nơi cõi Cực Lạc. Khi trán vừa chạm đất liền nghĩ mặt đất hóa thành cõi Tịnh với bảy báu trang nghiêm ngay đó tâm người lễ Phật đã nhập vào cảnh giới Cực Lạc.

Phương pháp lễ lạy
Sử dụng 9 lạy quy mạng cõi Cực Lạc
§   Nhất tâm quy mạng lễ, A-di-đà Như Lai, Thân diệu pháp thanh tịnh, Thường tịch quang Tịnh độ, khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, A-di-đà Như Lai, Thân tướng hải vi trần, Thật báo trang nghiêm độ, khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, A-di-đà Như Lai, Thân trang nghiêm giải thoát, Phương tiện Thánh cư độ, khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, A-di-đà Như Lai, Thân căn giới Đại thừa, cõi An lạc phương Tây, khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, A-di-đà Như Lai, Thân hóa đến mười phương, cõi An lạc phương Tây, khắp Pháp giới chư Phật. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, Ba kinh Giáo, Hành, Lý, tuyên dương cả ý chính, cõi An lạc phương Tây, khắp Pháp giới Tôn Pháp. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, Bồ-tát Quán Thế Âm, Thân tử kim muôn ức, cõi An lạc phương Tây, khắp Pháp giới Bồ-tát. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, Bồ-tát Đại Thế Chí, Thân trí sáng vô biên, cõi An lạc phương Tây, khắp Pháp giới Bồ-tát. (1 lễ).
§   Nhất tâm quy mạng lễ, Thánh chúng như biển lớn, thân hai nghiêm phước trí, cõi An lạc phương Tây, khắp Pháp giới Thánh chúng (1 lễ).
§   Nay con vì bốn ân, ba cõi cùng chúng sinh trong ba cõi, nguyện dứt trừ ba chướng, nên quy mạng sám hối. (1 lễ)

Một lòng chuyên niệm Phật cầu sinh Tịnh độ

Ý nghĩa
Tâm ý chúng sinh phần nhiều dao động theonhững âm thanh, hình sắc bên ngoài khởi lên phiền não, tham chấp. Nay dùng hồng danh “Nam mô A-di-đà Phật” cột tâm tán loạn, đưa tâm về một chỗ dừng hẳn các tạp niệm.Trong khoảng sát-na chuyên tâm buộc niệm không để tán thất đó là nhất tâm cũng gọi là “Chỉ”.Vãng sinh Tịnh độ luận giảng yếu chép: “Một lòng chuyên niệm gọi là hành Chỉ, do Chỉ làm ngưng dứt tán loạn tạp tâm được liền tịch mịch. Nên Cổ đức nói: Biết dừng rồi sau mới định, định rồi sau mới tịnh.” Do đắc được “Chỉ” nên vào chánh định gọi là tam muội liền vào được cõi an lạc của Phật A-di-đà.

Phương pháp chuyên niệm
Sử dụng phương pháp trì danh niệm Phật để đi vào “Chỉ”. Nghĩa là miệng niệm, tai lắng nghe và ý nhớ nghĩ danh hiệu Phật một cách rõ ràng.

Nhớ rõ ý nghĩa hồng danh Phật
Danh hiệu Phật, tiếng Phạn là Amitabha, dịch âm là A-di-đà có nghĩa là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Lượng Công Đức nhưng chủ yếu là Vô Lượng Thọ, nên hầu hết các kinh đều dịch Vô Lượng Thọ. Vậy “Nam mo Amitabha Buddha” hay “Nam mô A-di-đà Phật” có nghĩa là:

“Nam Mô”: nghĩa làKính lễ, Quy y, Phụng thờ, Cứu ngã, Độ ngã, Quy mạng

“A”: nghĩa là Không, là Vô

“Di Đà”: nghĩa là Lượng

“Phật”: nghĩa là Giác giả. Tổng hợp 4 chữ lại gọi là “Quy mạng đấng Giác ngộ Vô lượng”.

Lại nữa chữ “Vô lượng” rất rộng: Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang, Vô Lượng Công Đức, Vô Lượng Thần Thông, Vô Lượng Từ Bi, Vô Lượng Thiện Xảo… Tóm lại, niệm “Nam mô A-di-đà Phật” là bao hàm đầy đủ ý nghĩa.

Nhất tâm không loạn động
Người tu niệm Phật để đạt nhất tâm trước tiên cần cột tâm vào câu Phật hiệu.Tạp loạn nếu khởi lên liền dùng Phật hiệu ngăn không cho vào. Niệm này nối tiếp niệm kia không gián đoạn, ngày ngày chuyên niệm, tháng tháng không quên lần hồi sẽ được “Tịnh Chỉ”. Ngay khi ấy tâm thể vắng lặng như nước trong hồ không bị khuấy động, vạn vật soi vào đều nhận biết rõ.

Chuyên niệm quán sát cõi Tịnh độ trang nghiêm vi diệu

Ý nghĩa
Đây là từ nơi “Chỉ” khởi sinh “Quán”. Pháp “Quán” lại nương vào kinh Quán Vô Lượng Thọ thiết lập còn gọi là “Quán tưởng niệm Phật” nghĩa là căn cứ trên y báo, chánh báo nơi cõi Tịnh độ quán tưởng đến thuần thục thì nhắm mắt, mở mắt, đi, đứng, nằm, ngồi đều ở nơi cảnh Cực Lạc. Nhờ pháp quán này người tu Tịnh độ có thể chuyển cảnh Ta-bà uế trược thành cảnh an lạc trang nghiêm. Trong giờ phút hiện tại đã thọ dụng được “Thật báo trang nghiêm độ”, vị lai lo gì không đắc quả Vô thượng Bồ-đề.

Phương pháp quán tưởng
Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ chia ra làm 16 phép quán tương ứng với 16 giai đoạn dựa trên công đức trang nghiêm thù thắng của y và chánh báo. Kinh dạy rằng: “Người muốn tưởng nước nên biết Cực Lạc thế giới có ao nước bát công đức. Mỗi mỗi ao nước bảy báu làm thành.Báu ấy nhu nhuyến từ như ý châu vương sinh, chia làm mười bốn chi, mỗi mỗi chi làm sắc đẹp bảy báu. Hoàng kim làm lòng ao. Dưới lòng ao có kim cương nhiều màu làm cát tráng đáy. Trong nước mỗi mỗi ao báu ấy đều có sáu mươi ức hoa sen thất bửu. Mỗi mỗi hoa sen tròn đều mười hai do tuần. Nước ma-ni chảy rót trong khoảng lá, theo thân cây sen mà lên xuống, phát ra âm thanh vi diệu diễn nói Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, các Ba-la-mật, còn có tiếng tán thán tướng hảo của chư Phật. Như ý châu vương phóng ra ánh sáng vi diệu màu hoàng kim. Ánh sáng ấy hóa ra các giống chim màu trăm báu, hòa hót êm nhã, thường tán thán niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.Đây là tưởng nước bát công đức gọi là pháp quán thứ năm.”

Vận dụng lòng đại từ bi quán sát tất cả khổ não của chúng sinh, bằng nguyện lực trở vào vườn sinh tử, rừng phiền não, hiển lộ thần thông, đến chỗ giáo hóa, khiến tất cả chúng sinh xa lìa đường dữ, sinh về cõi Tịnh

Ý nghĩa
Phần thứ năm này chính là phần hồi hướng.Việc hồi hướng công đức tán thán, lễ bái, chuyên niệm hồng danh và quán tưởng về cõi Tịnh độ đó là Sự hồi hướng, còn Lý hồi hướng chính là công hạnh độ tha của chư Bồ-tát.

Hành giả tuy chưa hoàn toàn thể nhập vào cảnh giới Tịnh độ nhưng cấp độ tu tập ngày một tăng dần tương xứng với quả vị của chư Bồ-tát, Thanh văn trong cõi Phật.

Giai đoạn này hành giả có thể dùng tâm từ bi, phương tiện thiện xảo và trí tuệ chứng đắc để giáo hóa khiến chúng sinh xa hẳn đường tà, quay về nẻo chánh, tu nhân tịnh nghiệp, cầu sinh Cực Lạc.

Phương pháp hành trì
Lòng từ bi của chư Bồ-tát là luôn hướng về chúng sinh phục vụ không biết mệt nhọc, không ngằn mé, hạn lượng. Nơi nào Phật pháp cần Bồ-tát đến, nơi nào chúng sinh cần Bồ-tát đi, không kể gian lao, không từ khó nhọc. Đây chính là diệu dụng của chư Bồ-tát tại thế gian.

Bồ-tát ngoài việc tự tu cho mình đồng thời lo nghĩ đến chúng sinh, lấy Ta-bà làm đạo tràng tự độ, độ tha mong viên thành Phật quả. Vì thế Bồ-tát có mặt khắp mọi nơi: nhà trường, bệnh viện, công sở, trên xe buýt và ngay trong gia đình.

Với lòng bi mẫn, Bồ-tát luôn xem chúng sinh như là bậc thiện tri thức, hết lòng tôn kính phục vụ.Vì nếu không có chúng sinh, Bồ-tát cũng không thể nào viên mãn Bồ-tát hạnh.Cũng ví như người học làm thầy thuốc là vì muốn cứu giúp bệnh nhân, nhưng nếu không có bệnh nhân thì thầy thuốc cũng không có nghĩa gì.Thế nên Bồ-tát tại gia cần tâm nguyện tận trừ thống khổ cho chúng sinh. Ngày cũng như đêm giữ gìn thệ nguyện:

“Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học
Phước, Trí vô cùng thệ nguyện tu
Như Lai vô số thệ phụng sự
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.”

Lập thệ xong Bồ-tát cần gia công dụng hạnh để đưa thệ nguyện vào đời sống tu hành và hóa độ chúng sinh bằng cách thực hành 6 pháp Ba-la-mật: “Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ.” Đây là phương cách thực hành để Sự và Lý hồi hướng dung thông. Hoàn thành năm điều nêu trên tức là Bồ-tát đã viên thành Phật quả, đầy đủ oai đức, tự tại trong sinh tử, tùy thuận nhân duyên, khéo độ chúng sinh, lìa khổ Ta-bà, vãng sinh Tịnh độ.

Lại nữa, muốn thành tựu thân Phật và hiển bày cảnh giới Cực Lạc thù thắng ngay trong hiện đời, người tu pháp môn Tịnh độ có thể áp dụng phương pháp “Chỉ, Quán song vận”. Cách này tuy có phần giống như cách “Niệm Phật quán tưởng” nhưng hiệu nghiệm hoàn toàn hơn hẳn.Vì đây là tổng hợp của Thiền (nương nơi Chỉ và Quán), Tịnh (dùng câu Phật hiệu làm đề mục) và Mật (kết hợp thân mật, khẩu mật và ý mật tương ưng). Cộng với ba tư lương Tín, Nguyện, Hạnh hành giả Tịnh độ sẽ được tịnh hóa tội chướng, nhờ vào sự gia trì của chư Phật, Bồ-tát và Thánh chúng, nương theo đó mà được thuận duyên trong quá trình tu tập cho đến ngày viên mãn.

Kết hợp chỉ quán song hành

Ý nghĩa
Hành giả sau khi đã từng bước thực hành “Chỉ”và “Quán” thuần thục rồi thì bất cứ lúc nào cũng có thể song hành mà không cần phải theo thứ tự vì trong “Chỉ” có “Quán” và ngược lại. Nhờ sự hợp nhất này mà trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh hành giả niệm Phật đều không xa rời câu Phật hiệu và cảnh giới Tây phương Cực Lạc.Ngay tại nơi thân phàm phu này mà tâm có thể nghe Phật thuyết pháp, cùng chư Bồ-tát, Thanh văn vô ngại thảnh thơi, tùy duyên hóa độ vô lượng chúng sinh.

Phương pháp hành trì
Trong thời khóa công phu, hành giả trước hết nên buông lơi toàn thân, dùng hơi thở để điều hòa khí huyết. Khi tư thế đã vững vàng, thư thái hành giả bắt đầu quán tưởng Tây phương Tam Thánh (Phật A-di-đà, Bồ-tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Đại Thế Chí) cùng lúc xuất hiện trước mặt vây quanh là chư Thánh chúng.

Từ nơi tướng lông mày trắng (giữa chặng mày của Phật) xuất hiện một luồng hào quang trắng mát dịu chiếu thẳng vào đỉnh đầu hành giả (tịnh hóa thân nghiệp), từ đỉnh đầu hào quang hóa thành tinh chất cam lồ chảy vào cuống họng (tịnh hóa khẩu nghiệp) rồi chảy xuống ngực (tịnh hóa ý nghiệp). Những tội lỗi của ba nghiệp theo dòng cam lồ biến thành dòng nước màu đen chảy xuống hòa tan vào mặt đất. Lúcnày Phật đưa tay xoa đỉnh đầu và 2 vị Bồ-tát cùng chư Thánh chúng hoan hỷ dùng ánh sáng bao trùm lấy hành giả khiến thân tâm thanh tịnh.

An trụ trong cảnh tịnh lạc này, từ trong tâm khởi lên câu niệm “Nam mô A-di-đà Phật” thật nhẹ nhàng, khoan thai. Mỗi câu niệm Phật quay theo chiều kim đồng hồ xuất hiện giữa ngực hành giả đồng thời tất cả chúng sinh trong pháp giới đều đồng thanh niệm Phật.

Dùng phương pháp này đến giai đoạn viên mãn thân hành giả và thân của tất cả chúng sinh đều hóa hiện thành thân Phật, nơi hành giả ngồi tức khắc biến hiện thành cõi Cực Lạc.Đây chính là sự hợp nhất “Chỉ Quán song hành”, là diệu dụng của pháp môn Tịnh độ niệm Phật.

Hành giả thực hành phương pháp này tinh cần có thể chủ động thời gian, nhưng nếu muốn kết thúc thời công phu cần phải gom hết các pháp quán tưởng và câu Phật hiệu biến thành một luồng ánh sáng trắng hòa tan vào giữa ngực của mình. Sau đó chấp tay trang nghiêm hồi hướng công đức về cõi Tịnh độ.

Đến đây là kết thúc phần điều kiện vãng sinh cõi Tịnh độ.Tùy vào căn cơ cạn sâu, cao thấp mà chọn lấy phương cách hành trì thích hợp.Khi đã chọn được phương pháp tu hành điều cần yếu là nên tinh tấn quyết tâm.
Sự nỗ lực của tự thân chính là gốc của giải thoát.Nếu ta không tự nỗ lực tiến tu lại giao phó hết cho tha lực của chư Phật thì đó là một sự nhầm lẫn lớn.Có câu “Cảm ứng đạo giao nan tư nghì” nghĩa là sự giao thoa từ trường tâm linh giữa Phật và chúng sinh là không thể nghĩ bàn cũng ví như tần sóng vô tuyến điện. Nếu chúng ta không mở radio thì dù sóng vô tuyến điện có mạnh đến đâu đi nữa cũng không thể phát kênh chuyển đài.

Chúng sinh có “cảm” Phật liền “ứng” hiện, tùy theo mức độ mạnh yếu khác nhau sẽ có kết quả cao thấp, nhanh chậm sai biệt. Cõi Tịnh độ là thật có.Phật A-di-đà, chư Bồ-tát và Thánh chúng cõi Cực Lạc đang mong chờ chúng sinh là thật có. Tha lực của chư Phật phủ trùm khắp không gian và thời gian là thật có, nhưng nếu không tự biết khắc niệm tín thành, tha thiết nguyện cầu, hành sâu miên mật thì tất cả đều chỉ là huyễn hóa hư vô. Rất mong quý đạo hữu lưu tâm!
“Còn nữa…”

BÌNH LUẬN